Góp vốn điều lệ “ảo” và những hệ luỵ

Nhiều doanh nghiệp khi thành lập thường có tâm lý đăng ký số vốn điều lệ cao hơn mức có khả năng góp, tạo thành vốn “ảo” nhằm tâng bốc giá trị công ty.
Việc đăng ký vốn “ảo” không chỉ dẫn đến nhiều hệ luỵ với bản thân doanh nghiệp đó sau này, mà còn gây ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, gây ảnh hưởng đến các số liệu thống kê của cơ quan nghiên cứu.
Đơn cử là vụ việc xảy ra vào giữa năm 2021, một doanh nghiệp mới thành lập đã đăng ký vốn điều lệ là 525.100 tỉ đồng Việt Nam, vượt xa nhiều doanh nghiệp lớn hiện đang niêm yết trên sàn như Vin Group, Vietcombank hoặc Masan. Thú vị ở chỗ, CEO của “siêu doanh nghiệp” này, đồng thời là cổ đông cam kết góp số vốn lớn nhất của công ty, chỉ sống tại một căn nhà cấp 4 khiêm tốn, và thuê văn phòng làm việc với số tiền chỉ hơn 1 triệu đồng/tháng. Chưa đầy một năm sau, doanh nghiệp này đã giải thể công ty với lý do cổ đông chưa góp vốn đủ theo cam kết.
Từ câu chuyện trên, đã đặt ra một số câu hỏi pháp lý xoay quanh vấn đề này:
(1). Pháp luật Việt Nam quy định thế nào về việc góp vốn điều lệ?
(2). Rủi ro cho doanh nghiệp khi góp vốn điều lệ “ảo” là gì?
Bài viết này sẽ hỗ trợ bạn đọc giải đáp những câu hỏi trên.
1. Quy định pháp luật Việt Nam về việc góp vốn điều lệ
Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp hiện hành, vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do thành viên, cổ đông đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập doanh nghiệp.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không đặt ra khung giới hạn về số vốn khi thành lập doanh nghiệp, ngoại trừ doanh nghiệp hoạt động tại lĩnh vực đặc thù phải đáp ứng số vốn mà pháp luật quy định như kiểm toán, ngân hàng… Như vậy, trừ những lĩnh vực đặc biệt, các doanh nghiệp được tự quyết định vốn điều lệ để phù hợp với quy mô kinh doanh của mình.
Nhìn chung, doanh nghiệp khi thành lập mới có thời hạn 90 ngày để hoàn tất việc góp vốn điều lệ (hoặc một thời hạn ngắn hạn nếu điều lệ công ty quy định khác, đối với công ty cổ phần). Sau thời hạn nêu trên mà thành viên hoặc cổ đông chưa góp đủ, doanh nghiệp phải có trách nhiệm điều chỉnh giảm số vốn điều lệ tương ứng, và cập nhật lại thông tin về vốn điều lệ trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp.
Tại thời điểm doanh nghiệp thành lập, cơ quan nhà nước không có nghĩa vụ xác thực, kiểm tra việc góp vốn của doanh nghiệp, việc kiểm tra số vốn góp của doanh nghiệp chỉ mang tính hậu kiểm. Sau thời hạn góp vốn và trong quá trình hoạt động, nếu xét thấy cần thiết, đơn cử như trường hợp đặc biệt của doanh nghiệp đăng ký vốn điều lệ là 525.100 tỉ đồng Việt Nam, cơ quan nhà nước sẽ tiến hành kiểm tra và xử phạt doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có sai phạm.
2. Rủi ro khi đăng ký vốn điều lệ “ảo”
Góp vốn “ảo”, hay còn gọi là kê khai khống vốn điều lệ, là việc ghi nhận số vốn không đúng với giá trị vốn thực tế của doanh nghiệp, thường là ghi nhận số vốn cao hơn thực tế, với mục đích có thể là nhằm đánh bóng, thể hiện tiềm lực tài chính của doanh nghiệp với đối tác và khách hàng.
Không những là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong Luật doanh nghiệp, hành vi này còn kéo theo nhiều hệ lụy, bởi vốn điều lệ thực góp có ảnh hưởng rất quan trọng đến nghĩa vụ vốn – tài chính và thuế của doanh nghiệp.
Trong phạm vi giới hạn của bài viết này, chúng tôi nêu ra 2 rủi ro chính khi đăng ký vốn điều lệ ảo mà doanh nghiệp cần lưu ý:
(i) Bị xử phạt hành chính đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ
Nghị định 122/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 quy định mức xử phạt đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ như sau:
“1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị dưới 10 tỷ đồng.
2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 10 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng.
3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 20 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng.
4. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng.
5. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ có giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng với số vốn thực góp.”
(ii) Nguy cơ chi phí lãi vay bị loại khi vay vốn
Doanh nghiệp góp vốn chưa đủ thường sẽ hợp thức hóa sổ sách bằng cách hạch toán khoản vốn chưa góp vào tài khoản Tiền mặt (TK 111). Điều này dẫn đến việc tồn quỹ tiền mặt trong công ty cao.
Khi phát sinh việc vay vốn kinh doanh, doanh nghiệp sẽ rất khó giải trình tại sao có quỹ tiền mặt trong công ty cao nhưng lại phải đi vay, từ đó dẫn đến nguy cơ chi phí lãi vay không được tính vào chi phí được trừ khi tính số thuế TNDN (Điểm 2.18 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 96/2015/TT-BTC), gây nhiều thiệt hại về mặt tài chính khi doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh sau này.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể đối diện với việc bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 125/2020/NĐ-CP về hành vi khai sai khi hạch toán chi phí lãi vay.
